Home Tư vấn pháp lý Hôn nhân gia đình Khi nào Tòa án phải tính công sức trong vụ án dân...

Khi nào Tòa án phải tính công sức trong vụ án dân sự?

Trong thực tiễn, khi giải quyết các vụ án dân sự thì yêu cầu về tính công sức của một trong các bên đương sự là yêu cầu thường được đặt ra. Có thể thấy, công sức bao gồm nhiều loại như:

1.Công sức tạo lập tài sản, phát triển tài sản;

2.Công sức giữ gìn tài sản;

3.Công sức bảo quản tài sản;

4.Công sức tôn tạo tài sản;

5.Công sức làm tăng giá trị của tài sản;

6.Công sức chăm sóc, nuôi dưỡng người để lại di sản…

Như vậy, muốn tính công sức thì trước hết phải xem xét có công sức hay không và cần phải phân biệt giữa công sức và các chi phí.

1.Chi phí là khoản tiền đã bỏ ra (để nuôi dưỡng người để lại di sản như: Tiền thức ăn, tiền thuốc uống, tiền thuê người giúp việc…; để sửa lại nhà như: Trát lại tường, lăn lại sơn, lát sân nhà…). 2.Công sức là sức lực, là thời gian… mà con người bỏ ra để ra nuôi dưỡng người để lại di sản, để giữ gìn, bảo quản, duy trì tài sản nên tài sản không bị hư hỏng, mất mát hoặc để làm tăng giá trị tài sản bằng việc tôn tạo, tu bổ tài sản.

Thực tế cho thấy có thể phân loại có ba dạng công sức trong các vụ án dân sự: Công sức trong các vụ án hôn nhân và gia đình; công sức trong các vụ án thừa kế và công sức trong các vụ án khác (đòi tài sản, đòi nhà đất cho thuê, đòi lại nhà đất cho ở nhờ…).

Tại điểm b khoản 2 Điều 59 LHNGĐ năm 2014 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố trong đó có: Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập.”

Khoản 1 Điều 61 LHNGĐ năm 2014 quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình: “Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Như vậy, đối với việc chia tài sản chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn thì có xem xét công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì và phát triển tài sản. Về nguyên tắc thì trong thời gian chung sống, nếu không có chứng cứ gì khác thì về nguyên tắc tài sản phát triển đều được chia đôi (công việc nội trợ và công việc khác liên quan đến đời sống chung cũng được coi như lao động có thu nhập).

Đối với các vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản thì trước khi phân chia tài sản thừa kế, Tòa án thường xem xét để trích cho người có công sức trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng người để lại di sản (ngoài phần chi phí cho việc nuôi dưỡng), công sức bảo quản di sản, công sức giữ gìn tài sản…

Đối với các vụ án đòi nhà đất cho ở nhờ thì nếu chấp nhận yêu cầu của chủ nhà thì ngoài việc chủ nhà phải thanh toán cho người ở nhờ tiền chi phí sửa sang nhà (nếu có việc sửa nhà và người cho ở nhờ không phản đối và hợp đồng cho ở nhờ không quy định) thì chủ nhà còn phải trả cho người ở nhờ khoản tiền công sức bảo quản, duy trì nhà ở (nếu có).

Trong các vụ án đòi tài sản khác thì nếu người quản lý tài sản có công sức thì chủ sở hữu của tài sản cũng phải có trách nhiệm thanh toán cho người đang quản lý tài sản.

Vậy, việc tính công sức dựa trên các tiêu chí nào? Trường hợp nào thì tính công sức? Trường hợp nào thì không tính công sức? Trên thực tế còn có những ý kiến khác nhau và chưa có sự hướng dẫn, nhưng tựu chung lại thì có các loại ý kiến khác nhau về việc tính công sức sau đây:

Quan điểm thứ nhất: Đối với trường hợp người trực tiếp quản lý tài sản đang có tranh chấp đã sử dụng, khai thác lợi ích, hoa lợi và có thu nhập từ việc quản lý, sử dụng tài sản đó thì không nên tính công sức gìn giữ, quản lý tài sản cho họ vì họ đã được hưởng lợi từ tài sản mà họ được quản lý (như trong trường hợp người mượn tài sản, người ở nhờ nhà đất, thì người mượn tài sản, người ở nhờ không những được sử dụng nhà không phải trả tiền thuê tài sản mà còn được sử dụng tài sản đó để hưởng hoa lợi, lợi tức, điển hình nhất là những trường hợp mượn và ở nhờ nhà, đất thì người mượn, người ở nhờ được sử dụng nhà, đất đó để kinh doanh… nên nếu tính công sức duy trì cho họ thì họ sẽ được hưởng lợi nhiều lần).

Quan điểm thứ hai: Đối với trường hợp người trực tiếp quản lý tài sản có tranh chấp không khai thác lợi ích của tài sản thì dù có thoả thuận hay không có thoả thuận về tính công sức thì đều phải tính giá trị công sức cho họ “tương xứng” với công sức mà họ đã bỏ ra.

Quan điểm thứ ba: Trong mọi trường hợp đều phải tính công sức cho người trực tiếp quản lý tài sản có tranh chấp.

Từ thực tiễn công tác giám đốc thẩm, Tòa Dân sự cho rằng việc tính công sức giữ gìn, bảo quản, duy trì, cải tạo… tài sản dựa trên các tiêu chí sau đây:

1- Công sức giữ gìn, bảo quản, duy trì, cải tạo… tài sản được xác định trong những trường hợp sau đây: Nếu không có sự quản lý (bảo quản, giữ gìn…) thì tài sản có thể sẽ không còn hoặc bị giảm giá trị (do bị mất mát, hư hỏng theo tự nhiên hoặc bị chủ thể khác xác lập quyền sở hữu, sử dụng một phần hoặc toàn bộ theo quy định của pháp luật) và do có sự quản lý nên tài sản vẫn còn và giữ được giá trị (một phần hoặc toàn bộ) hoặc làm tăng giá trị của tài sản (giá trị tài sản có thể được tăng theo tự nhiên, do trượt giá hoặc do người quản lý có công cải tạo làm giá trị tài sản tăng giá trị).

Trong trường hợp người quản lý tài sản được hưởng hoa lợi, lợi tức… từ việc quản lý tài sản thì phải xem xét thu nhập đó giá trị bao nhiêu? Có tương xứng với công sức mà người quản lý tài sản bỏ ra hay không? Nếu thu nhập từ việc quản lý tài sản của người quản lý tài sản tương xứng hoặc cao hơn công sức mà người đó đã bỏ ra thì vấn đề công sức không đặt ra; còn nếu thu nhập từ tài sản của người quản lý tài sản thấp hơn công sức mà người quản lý tài sản đã bỏ ra thì nên xem xét cho họ.

2- Các tiêu chí để tính công sức:

Một là: trước hết phải xem xét về tầm quan trọng của việc quản lý tài sản đó và quan hệ liên quan đến việc quản lý tài sản. Nếu như người thừa kế (do trước đó sống chung với người để lại di sản), người ở nhờ quản lý tài sản… thì tầm quan trọng trong việc quản lý tài sản sẽ khác với trường hợp người khác quản lý giúp tài sản, ví dụ: Người quản lý di sản là người thừa kế quản lý ôtô do sống chung với người để lại thừa kế sẽ có công ít hơn trong trường hợp người quản lý tài sản do người khác để lại ôtô do phải bỏ chạy do thiên tai… Phải xem xét nếu không có công sức của người quản lý, giữ gìn tài sản… thì tài sản đó có tồn tại hay không (nếu không có người đang quản lý tài sản thì có người khác quản lý tài sản không? Nếu không có người quản lý tài sản thì tài sản đó có bị thu hồi hay không? Có bị giảm giá trị hay không?…).

Hai là: Giá trị của tài sản cũng là một tiêu chí để xem xét công sức cho người quản lý tài sản: Tài sản càng có giá trị cao thì trách nhiệm của người quản lý tài sản càng lớn. Công sức quản lý tài sản có giá trị cao phải cao hơn công sức quản lý tài sản có giá trị thấp (nếu cùng phải chi phí thời gian, sức lực…).

Ba là: Quản lý tài sản yêu cầu trình độ chuyên môn cao, chi phí thời gian nhiều… phải được xem xét công sức cao hơn quản lý tài sản không yêu cầu trình độ chuyên môn hoặc tốn ít thời gian…

Trong thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự thì một số Tòa án tính công sức cho người Việt Nam ở trong nước mua giúp nhà đất và quản lý nhà đất cho người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài bằng ½ số tiền chênh lệch từ việc chuyển nhượng nhà đất; tính công sức từ ½ đến 1 xuất thừa kế theo luật (tùy từng vụ, việc) đối với người quản lý di sản…cũng là phù hợp với thực tế.

 

LIÊN HỆ NGUYÊN LUẬT

Với đội ngũ luật sư và chuyên viên pháp lý tận tâm, chuyên nghiệp, hệ thống tổng đài của chúng tôi luôn phục vụ 24/24h nhằm mang đến cho khách hàng sự hỗ trợ nhanh nhất và hiệu quả nhất. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và thực hiện các dịch vụ pháp lý nhanh chóng, uy tín và hiệu quả!

☎ Hotline: 0931.177.377 (Mr. Trung)

📫 Email: luatsu@nguyenluat.vn